BLOG

Tiếp cận hội họa trừu tượng nhưng chưa hẳn đã tới đó

Milton Avery với sự Cáo chung của Chủ nghĩa hiện đại là Chủ đề của cuộc triển lãm hiện nay tại Viện Bảo tàng Mỹ thuật Quận Nassau, Hoa Kỳ, được mở cửa đến thượng tuần tháng 5 năm nay (2011), cho thấy đây là một cuộc trưng bày đầy hoài bão. Sự cáo chung của Chủ nghĩa hiện đại ư? Đây là cả một vấn đề rộng lớn, đặc biệt trong một thế giới mỹ thuật, hiện nay và cả mai sau nữa, các loại hình mỹ thuật như chủ nghĩa hiện đại, hậu hiện đại và đương đại có lẽ vẫn còn chưa được phán định một cách rõ ràng, dứt khoát…

Milton Avery với sự Cáo chung của Chủ nghĩa hiện đại là Chủ đề của cuộc triển lãm hiện nay tại Viện Bảo tàng Mỹ thuật Quận Nassau, Hoa Kỳ, được mở cửa đến thượng tuần tháng 5 năm nay (2011), cho thấy đây là một cuộc trưng bày đầy hoài bão. Sự cáo chung của Chủ nghĩa hiện đại ư? Đây là cả một vấn đề rộng lớn, đặc biệt trong một thế giới mỹ thuật, hiện nay và cả mai sau nữa, các loại hình mỹ thuật như chủ nghĩa hiện đại, hậu hiện đại và đương đại có lẽ vẫn còn chưa được phán định một cách rõ ràng, dứt khoát…

Tuy nhiên, cuộc triển lãm này vẫn là một đóng góp xứng đáng đối với một nghệ sĩ chưa hề dừng chân “ấm chỗ” trong một phong cách thể hiện mỹ thuật có tính lịch sử. Hồi mới khởi nghiệp, Milton đã sáng tác những tác phẩm quá trừu tượng, không hợp “gout” của các nhà phê bình mỹ thuật, nhưng những năm sau đó thì các họa phẩm của ông lại không đậm chất trừu tượng lắm.

Ba người bạn
Ba người bạn

Milton Avery (1885-1965) sinh trưởng tại Hartford, Bang Connecticut sau khi tốt nghiệp phổ thông, ống vào làm trong nhà máy, trong khi vẫn theo học một số trường mỹ thuật tại địa phương. Năm 1917, ông chuyển sang làm ca đêm tại nhà máy để dành trọn ban ngày hoàn toàn cho sáng tác mỹ thuật.

Ông chuyển tới New York năm 1925 và kết hôn ngay năm sau. (Vợ ông, Sally Michel, thường hỗ trợ ông trong suốt 25 năm sau đó, thông qua cồng việc minh họa của bà). Cuộc trưng bày này tuyển chọn toàn những họa phẩm được sáng tác sau năm tháng ấy. Cưỡi ngựa rong chơi ngày chủ nhật (Sunday Riders), vẽ năm 1929, là một bức sơn dầu sẫm màu, miêu tả cảnh sắc ngoài trời bằng những vạch màu kỳ dị, như thời Milton sáng tác ở Connecticut vậy.

Trong suốt những năm 1930, đặc biệt là trong thập kỷ những năm 1940, ta có thể thấy nghệ sĩ đã chắt lọc được những ảnh hưởng của Picasso và Matisse, từ những tuyệt tác của hai họa sĩ bậc thầy này , những người mà ông đã được chiêm ngưỡng sau khi chuyển tới New York. Họa phẩm Hai anh hề (Two Clowns), vẽ năm 1937, trông hao hao giống nhiều nhân vật biểu diễn xiếc của Picasso, trong khi bức Nhóm bầu bạn – Sau chầu cà-phê tối (The Group – After Dinner Coffee), vẽ năm 1939, với những tách cà- phê có những nét cong cong đặt chênh vênh trên một chiếc bàn xanh hướng về phía người xem, khiến ta nhớ đến những họa phẩm vẽ những bàn ăn bữa tối của Matisse từ hồi đầu thế kỷ.

Các nhà nghiên cứu lịch sử mỹ thuật chuyên về Milton thường chia sự nghiệp sáng tác của ông thành những thời kỳ được đánh dấu bằng những sự kiện có tính chất cột mốc, như việc chuyển tới New York chẳng hạn. Một sự kiện khác xảy ra năm 1944, khi Milton tổ chức một cuộc trưng bày tại Triển lãm bộ Sưu tầm Phillips ở Washington. Ba bức sơn dầu vẽ trên vải bố, sáng tác cùng năm đó, cho thây ông đã ấn mạnh nét bút cọ, đơn giản hóa hình người, đưa bảng màu của ông vào những mảng tươi sáng hơn.

Nghệ sĩ đàn cello màu xanh
Nghệ sĩ đàn cello màu xanh

Nước da của người nhạc công được vẽ đơn giản, theo hình khối trong bức Nghệ sĩ đàn cello màu xanh (Cello Player in Blue), được tố một màu da cam- đỏ xẫm, trong khi các nhân vật trong bức Ba người bạn (Three Friends) được trải rộng ra cả bề mặt tranh, giống như những tác phẩm cắt dán cuối đời của Matisse vậy. Bức Tĩnh vật vói chai lọ (Still Life with Bottles), với cách nhấn mạnh vào các hình khối rắn đặc, đặt ở không gian bất định, khiến ta cảm thấy hơi giống với Giorgio Morandi, một nghệ sĩ cự phách nữa của hội họa hiện đại chủ nghĩa.

Một cột mốc khác nữa là vào năm 1949, khi Milton bị một cơn đau tim nặng. Trong khi còn đang nghỉ dưỡng, phục hồi sức khỏe tại Florida, ông bắt đầu thực hiện in tranh mộc bản. Trong các họa phẩm thời kỳ này, bảng màu của ông cứ nhạt dần, và các hình người cũng bắt đầu dần biến.

Trong một căn phòng nhìn ra phong cảnh biển cả mênh mông sóng nước, ta được thấy một Milton già dặn vào giai đoạn cuối đời – đổng thời đi sâu trở lại vào chủ nghĩa hiện đại Âu châu thời kỳ sơ khởi.

Tác phẩm Nắng rọi Hồ Nam (Sun over Southern Lake), sáng tác năm 1951, đã sử dụng những thủ thuật của Gauguin và các môn đệ của ống, nhóm Nabis, phân màu sắc thành những mảng đơn giản, tương đối trải đều, không gợn sóng. Sông Seine, vẽ năm 1953, đã thể hiện một ý thức về không gian lớn hơn, với ánh sáng, sắc màu cùng nét vẽ nhẹ nhàng, mềm mại hơn. Những người ngắm biển (Sea Gazers), vẽ năm 1956, đưa một số hình người trở lại, đặt họ trước một khoảng xanh êm dịu đến lạ thường.

Không đề
Không đề

Một họa phẩm về sau này, Cồn cát với Biển cả II (Dunes and Sea II) vẽ năm 1960, đã đưa Milton tới đỉnh cao của nghệ thuật thể hiện. Một tuyệt tác bố cục cân đối, tĩnh lặng, tác phẩm bậc thầy này đã đưa Milton theo hướng hội họa trừu tượng, nhưng chưa hẳn đã tới được đích đó. Ngược lại, chính biển cả mênh mông trong tác phẩm đã thể hiện nghệ thuật trừu tượng hóa của ông.

Còn ý kiến về vai trò của Milton trong thời kỳ kết thúc nền mỹ thuật hiện đại thì thế nào? Theo Karl E. Willers, người đã nhận chức giám đốc viện bảo tàng hồi năm ngoái, đó chính là “cái đẹp của bản phác họa”, như ông viết trong cuốn vựng tập của triển lãm: đó là, sự kết thúc của cách phân biệt giữa bản phác họa ban đầu cho một tác phẩm với hiện trạng lúc tác phẩm hoàn chỉnh, và niềm tin rằng “chính cách thực hiện của Milton đã đưa quá trình biến đổi hiện đại chủ nghĩa trong nghệ thuật thưởng thức lên một tầm cao, không phổ biến, thịnh hành như ở bất cứ nghệ sĩ nào đi trước đó và cũng không tinh tế, tao nhã như ở bất cứ nghệ sĩ nào kế tiếp sau . ”

Nhiều nhà nghiên cứu lịch sử mỹ thuật thường tranh luận ý kiến cho rằng Milton là người đóng vai trò chủ chốt trong việc kết thúc trào lưu mỹ thuật hiện đại chủ nghĩa. Nhưng ngược lại, họ cứ tìm kiếm bên ngoài hội họa, lao vào nghệ thuật nhiếp ảnh, sự trỗi dậy của các hình ảnh quảng cáo, video và nghệ thuật trình diễn – hoặc vào các họa sĩ sáng tác tranh mộc bản hoặc dỡ bỏ tấm vải bố ra khỏi khung tranh.

Cuộc trưng bày này còn bị hạn chế do hoàn cảnh. Phần lớn các tác phẩm trưng bày tại đây được Tiến sĩ Willers rút ra từ bộ sưu tầm của Viện bảo tàng Neuberger ở Purchase, Bang New York một số là của Viện bảo tàng Mỹ thuật Hoa kỳ Whitney mà ông duy trì được quan hệ gắn bỏ từ lâu. Những gì còn thiếu vắng trong cuộc triển lãm này là các tác phẩm thời kỳ đầu và những bản in đưa phong cách quét màu láng đều và gần như trừu tượng của Milton vào phạm trù tái sản xuất hàng loạt. Nghệ sĩ này vẫn thường nung nấu ý tưởng in tranh của mình: chỉ tính riêng sau lần đột quỵ năm 1949 thôi, ông đã in gần 200 bức !

Những ý tưởng của Milton về sắc màu và không gian cũng thấm sâu vào thế hệ thường được miêu tả là nhịp đập cuối cùng của nền mỹ thuật hiện đại chủ nghĩa: các họa sĩ thuộc họa phái “Color của Trường Mỹ thuật New York. Trong buổi lễ truy điệu Milton năm 1965, Mark Rothko, một danh họa trong số những nghệ sĩ đó, đã miêu tả rằng trong những xưởng họa của Milton ở Khu Tây – Thượng Manhattan ‘‘những bức tường luôn ngập tràn thơ ca và ánh sáng thay đổi đến bất tận

Và hôm nay đây, một lần nữa, thi ca và ánh sáng lại đang bừng lên, lung linh rực rỡ trên nhũng bức tường của cuộc triển lãm này, cho dù chúng có đánh dấu sự kết thúc, hoặc sắp kết thúc, hoặc chỉ là một giây phút nào đó trong nghệ thuật thể hiện của hội họa hiện đại đi chăng nữa!

 

 

 

 

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

HOTLINE: 0917.896.880
Chat Facebook
Gọi điện ngay